FC Chap 1

Attention: Một vài địa danh của Florence, Italy sẽ được giữ nguyên tên, và có chú thích ở phía dưới. Cảm ơn mọi người đã đọc. Chúc mọi người đọc chuyện vui vẻ.

***

♯1

Anh không sao chịu nổi nữa.

Với cái nóng khủng khiếp; không có lấy một đám mây để che đi ánh mặt trời thiêu đốt, hay tạo thêm – bóng râm cần thiết. Erik đã đi tham quan suốt từ lúc mười một giờ sáng, sau khi hoàn tất những thủ tục cần thiết cuối cùng, và chủ nhà chịu buông tha cho anh. Giờ đã là gần hai giờ chiều, và mặt trời tháng Tám ở Tuscan đúng là giết người. Hơn nữa, anh thấy đói bụng rồi.

Kiểm tra lại tấm bản đồ cùng không gian xung quanh, anh kết luận rằng mình đang ở khá gần với Piazza della Signoria (1), nên quyết định tới đó. Chắc hẳn ở một địa điểm du lịch như vậy, anh có thể tìm được cho mình một nhà hàng tử tế.

Tới được đến quảng trường thì người Erik đã đẫm mồ hôi, nhăn nhó và rủa thầm trước cái nóng giết người, nhưng tất cả sự khó chịu ấy nhanh chóng biến mất khi anh ngước nhìn và thấy toàn cảnh ấn tượng của khu chợ cùng Palazzo Vecchio (2) trước mắt. Anh rút chiếc điện thoại đen từ túi xách ra, chụp vài bức ảnh để gửi cho mẹ, sau khi tìm được nơi phát wifi hay quay về căn hộ của mình.

Mới làm khách du lịch được ba tiếng nhưng anh đã có thể nhận ra lí do vì sao Florence được yêu thích đến vậy. Từ căn hộ mới ở khu San Frediano, anh bước dọc sông Arno, băng qua cầu Ponte Vecchio (3) để vào trung tâm của thành phố cổ, rồi trầm trồ trước kiến trúc, màu sắc cũng như âm thanh nơi đây. Ở trên cầu là một cửa tiệm nữ trang nhỏ, nơi anh dành ra ít nhất mười lăm phút để ngắm nhìn những món đồ hết sức tinh xảo, được làm bằng bạc, vàng, và đá quý; chúng cất tiếng vẫy gọi anh; ngoài ra còn có cảnh tượng nhìn từ giữa cầu, nơi anh chụp được vô số những bức ảnh của con sông, ngọn đồi và đường chân trời cho mẹ; rất nhiều con đường hẹp trải kín đá, bao quanh là những tòa nhà sơn trắng, màu pastel với mái ngói đỏ.

Đúng, Erik hoàn toàn hiểu được lí do vì sao nó nổi tiếng đến vậy. Ngoại trừ việc hôm nay là một ngày hè vô cùng nóng bức.

Thực ra thì anh có thể tới đây muộn hơn, cho qua mùa hè kinh khủng, bởi đến giữa tháng Chín, anh mới phải bắt đầu đi học, chính xác là còn bốn tuần nữa. Nhưng anh muốn có thêm thời gian để làm quen với nơi này, thành phố mà mình sẽ sống trong ít nhất là một năm tới.

Một khi đã hết kinh ngạc trước khu chợ, và có đủ những bức ảnh đẹp nhất của mọi ngóc ngách, những bức điêu khắc và tháp nước để mẹ xem trong vài giờ, anh quyết định dừng chân tại một nhà hàng trang nhã ngay cạnh triển lãm Loggia del Lanzi (4). Khá là thần kỳ, anh tìm được một chỗ ngồi bên ngoài sân thượng của nhà hàng, dưới bóng râm, mà không phải đấu tranh với hàng ngàn những khách du lịch khác, anh có thể thấy những bức tượng rực rỡ ở Loggia và toàn cảnh palazzo ở ngay bên trái mình.

Người phục vụ xuất hiện trong giây lát, ngay sau khi anh vừa đặt túi đồ xuống, trông có vẻ vội vã và khá căng thẳng, bởi lượng khách khá đông nên Erik cũng chẳng trách gì anh ta. Cũng không quá lời khi nói rằng Florence đông nghẹt bởi khách du lịch. Anh có thể thêm điều đó bên cạnh cái nóng thiêu đốt vào danh sách mình đang nhẩm trong đầu ‘Những điều tôi không thích ở thành phố này’. Sau khi quyết định gọi một món mỳ đơn giản (gồm có phô-mai pecorino, thịt nguội và hành, người phục vụ giải thích trong chất giọng đặc Anh) và một chai bia Ý có tên mà anh khá chắc rằng mình phát âm sai, anh chỉ thư giãn và đưa mắt nhìn quanh.

Toàn người. Hàng ngàn người. Biển người từ khắp mọi nơi, chạy nhảy, la ó, chụp ảnh và quay phim. Bỗng dưng, anh muốn đổi ý, và nghĩ rằng có lẽ mình đã phạm sai lầm, anh nên thu dọn đồ và quay trở về Dusseldorf, về với mẹ, với cuộc sống bình lặng và theo trật tự của mình mới đúng. Anh đã có bằng Thạc sĩ nghệ thuật khoa Piano của Học viện hoàng gia ở Luân Đôn, có thể theo đuổi sự nghiệp chơi đàn chuyên nghiệp bất cứ khi nào anh thích, và mặc kệ những ai gièm pha về phong cách của mình.

Nhưng không, anh vẫn phải nghe họ chứ.

Anh phải nghe lời của những vị giáo sư già yếu, với những câu nói quen thuộc, song ngốc nghếch như ‘phong cách của cậu cứng nhắc quá, Erik,’ ‘tiếng đàn của cậu thật vô cảm, Erik, ‘tính cậu đặc chất Đức, Erik,’ ,’cậu nên thử tìm cảm xúc của mình xem sao, Erik’. Toàn lũ ngốc, tất cả bọn họ, họ thì biết gì về anh? ‘Đặc chất Đức à’. Đúng thật là. Dĩ nhiên là anh đặc chất Đức rồi, và anh hết sức tự hào về điều đó!

Dao nĩa trên bàn run bần bật, và Erik hít một hơi thật sâu. Việc nổi giận bây giờ sẽ chẳng hay ho gì, đơn phương độc mã, để cho hàng trăm người tại nơi này biết rằng anh là một dị nhân. Nhưng ai mà biết được, có lẽ cũng có những người dị nhân khác quanh đây nữa, cho dù điều đó hẳn là không thể. Nhưng. Tốt nhất là nên kiềm chế lại. Hôm nay mới là ngày đầu tiên anh ở đây thôi, không nên gây sự chú ý. Tốt hơn hết là cứ nhẹ nhàng thôi.

Thức ăn được mang tới và chúng thơm cực kỳ. Hít sâu lần nữa, cuối cùng anh cũng thấy đủ bình tâm để thưởng thức một đĩa mỳ ngon tuyệt cùng chai bia lạnh cứu vớt cuộc đời.

Cũng không tệ đến vậy, anh phân tích. Thực ra thì Florence cũng giống như một nơi đẹp đẽ để anh có thể tận hưởng, anh sẽ học với Pinzauti, một giáo viên dạy piano nổi tiếng, ở Nhạc viện Luigi Cherubini. Bằng cách tiếp thu niềm đam mê âm nhạc từ vị giáo viên trứ danh ấy, anh hẳn sẽ bỏ đi được sự cứng nhắc trong kĩ năng của mình. Đó là lí do vì sao anh quyết định đến tận đây (sau khi thảo luận với mẹ trong nhiều ngày, bà là nguyên do chính khiến anh nghĩ tới nước Ý). Và chỉ mất một năm thôi, anh nghĩ. Rồi anh có thể quay lại Luân Đôn, cho mấy lão già ấy thấy những gì anh đã học được và ngậm miệng lại, rồi trở thành một người nghệ nhân có một không hai.

Dùng xong bữa, bụng anh ấm lại còn chân thì nhũn ra, anh gọi tiếp một cốc espresso và châm thuốc. Thật dễ chịu, khi ngồi dưới bóng râm và có một cơn gió hè thổi nhẹ qua da thịt, anh thấy mình được bao bọc xung quanh bởi những kiến trúc ấn tượng: tháp nước Neptune, lâu đài và những bức tượng điêu khắc ở Loggia.

Anh lơ đãng chiêm ngưỡng bức điêu khắc gần với mình, khối hợp thể màu trắng gồm ba hình thể đan vào nhau, gồm một thanh niên đang nằm giữa hai chân của một thanh niên khác nom trẻ hơn, trong tay là một người phụ nữ trông có vẻ đang hờn dỗi, rồi mắt anh nhìn xuống người đang ngồi dưới bức điêu khắc ấy. Chính xác hơn là một thanh niên.

Người ấy đang ngồi đó với một thứ trông giống như bảng vẽ lớn đặt trên chân mình, cùng một vật giống nhưng dày hơn bút trên tay bên phải. Cậu nhìn lên bức tượng rồi nhìn xuống bảng vẽ lần nữa, dường như đang cau mày sau đôi kính râm ấy, có lẽ là vì quá tập trung. Erik không hiểu vì sao người thanh niên này lại thu hút sự chú ý của anh đến vậy cho tới khi nhìn kĩ hơn.

Cậu khá là hấp dẫn.

Phần mái hơi dài khiến cậu luôn phải vuốt ngược nó lên bằng tay cầm bút – hay cọ gì đó. Đó là một mái tóc màu nâu socola, bồng bềnh và sáng bóng. Cậu bận cặp kính râm tối màu, nhưng vẫn nhận diện được những đường nét khác. Cậu có chiếc mũi khá lạ, mạnh mẽ và hơi gồ lên, khiến cả gương mặt trở nên nổi bật, và một cặp môi có vẻ khá dày và đỏ nếu nhìn từ khoảng cách này.

Cậu bận áo phông ôm ngắn tay màu xanh biển tương phản với làn da trắng của mình, bên dưới là quần jeans mài tối màu, nếu không muốn bị bắt gặp thì Erik nên thực sự ngừng việc nhìn trộm đi thôi.

Hắng giọng, anh uống nốt tách café rồi gọi thanh toán, giơ tay lên. Đeo kính râm và trước khi kịp nhận ra thì mắt anh đã quay trở về hướng người thanh niên đang vẽ ấy. Thật là, càng nhìn kĩ anh càng chắn chắn. Cậu hết sức quyến rũ, và Erik không phải là kiểu người bỏ qua cơ hội được chiêm ngưỡng một người đàn ông quyến rũ chỉ bởi vì đó không phải là thói quen của mình.

Bỗng người phục vụ cầm tờ hóa đơn tới, và suýt khiến anh lên cơn trụy tim, khi đang tập trung vào việc ngắm nhìn người họa sĩ điển trai. Anh cầm lấy ví, rút ra vài tờ hai mươi đồng Euro rồi đưa nó cho người phục vụ, anh ta nhanh chóng thối lại tiền thừa từ chiếc túi cạnh sườn của mình, chúc anh một ngày tốt lành, và rời đi. Erik dập điếu thuốc, cầm lấy đồ và rời khỏi ban công của nhà hàng, quay về hướng lô-gia.

Người ấy không còn ở đó nữa.

Anh nhìn xung quanh chợ, chỉ chưa tới vài phút trước người vẫn đang ở đó, vậy mà giờ Erik không thấy chiếc áo xanh kia đâu nữa, có quá nhiều người ở đây. À thì. Cũng không hẳn là anh định đuổi theo người ấy. Chí ít thì anh cũng được chiêm ngưỡng cảnh đẹp khi thưởng thức café rồi mà.

Hít một hơi thật sâu, anh rút tấm bản đồ từ túi quần mình ra và tiếp tục chuyến hành trình khám phá thành phố xinh đẹp này.

Phải tới hai ngày sau, anh mới có thời gian rảnh để đi đây đó. Thêm nhiều những loại giấy tờ được gửi đến từ Đức rồi Nhạc viên, và anh phải dành hết những ngày vừa rồi chạy ngược xuôi, gửi thư, đi scan giấy tờ, kí chúng, sửa lại thông tin. Anh ghét bộ máy quan liêu ở đây quá.

Trời tờ mờ sáng với trận mưa rào và mọi thứ đều xám xịt, Erik để cửa sổ mở hờ để đón lấy không khí trong lành từ bên ngoài. Khi mặt trời lên cao thì thời tiết lại bắt đầu oi bức.

Anh ăn trưa ở nhà, mỳ trộn salad với vài thứ được mua ở cửa hàng tiện dụng của một gia đình ở cuối phố, rồi ngay khi mưa đã tạnh, anh túm lấy bản đồ, chìa khóa, và túi đồ với một chiếc ô bên trong, phòng trừ.

Cho tới lúc này, anh vẫn chỉ tha thẩn đi qua những khu nhà, con phố và chợ. Anh vẫn còn hơn ba tuần để đi thăm bảo tàng và những nơi khác, với lại giờ vẫn đang là mùa cao điểm. Sẽ là tự sát nếu viếng thăm những nơi ấy với hàng dài khách du lịch từ khắp mọi nơi. Anh có thừa thời gian. Nên làm quen với những con đường ở thành phố này trước đã.

Anh quyết định đi bộ từ nhà mình tới Nhạc viện để xem hết bao lâu, và đi đường nào là tiện nhất. Nhạc viện ở trên đường Ricasoli, trên đường tới đó, anh phải đi qua Pizza del Doumo trứ danh. Khi tới nơi, anh đã phải ngồi lại ở ghế đôi chút.

Chưa bao giờ anh nhìn thấy một nơi đẹp như thế. Chưa bao giờ.

Nhà thờ đồ sộ bỗng hiện lên trước mắt, tráng lệ và kiều diễm với những phiến đá cẩm thạch hồng, trắng, xanh và những hoa văn tinh xảo ở mặt tiền. Mái vòm bằng gạch đỏ ở xa phía sau dường như quá lớn để là thật. Tháp chuông ở bên phải, cao hơn Erik tưởng tượng ra nhiều, cũng đẹp hệt như nhà thờ chính vậy. Thực sự thì anh đã lớn lên ở những thành phố như Düsseldorf và Köln, thậm chí còn học ở cả Luân Đôn. Anh đã thấy những nhà thờ, và kiến trúc ấn tượng đủ cho hết phần đời còn lại của mình, nhưng còn nơi này. Nó không giống bất kì nơi nào anh từng thấy. Và anh gần như không thở được.

“Hội chứng Stendhal, hoặc Hội chứng Florence, họ gọi nó như vậy đấy,” Erik xoay người về phía giọng nói ở ngay bên trái mình, và thấy bản thân đối diện với chàng thanh niên áo phông xanh ngồi vẽ hôm trước. Hôm nay cậu không còn mặc áo phông xanh nữa, mà thay vào đó là áo polo màu trắng, nhưng thật khó để không nhận ra cậu. Mái tóc, khuôn mũi, những đốm tàn nhang (ôi chúa ơi, tàn nhang) trên làn da trắng, đôi môi đỏ, và kính mắt, tất cả đều giống nhau. Tim Erik đập loạn nhịp, anh không chắc liệu chuyện đó có còn liên quan tới nhà thờ hay không nữa.

“Gì cơ?” Anh đáp. Người thanh niên mỉm cười, môi mím lại.

“Tim đập nhanh, chóng mặt, hoa mắt, bối rối hay gặp ảo ảnh khi đối diện với nghệ thuật, hay quá nhiều vẻ đẹp hội tụ cùng một chỗ. Được gọi là Hội chứng Stendhal hay Hội chứng Florence, vì nó được phát hiện và tìm ra ở đây, và tôi e là anh đang trải qua trường hợp ấy, bạn hiền ạ!” Erik nghĩ rằng anh không nghe được quá nửa câu, lạc lối trong chất giọng ngọt ngào cùng đôi môi và nụ cười ấy.“….sao cơ?”

Chàng thanh niên hấp dẫn kia bật cười, và giờ thì Erik nghĩ anh thực sự bị hội chứng hoảng loạn trước vẻ đẹp kia rồi.

“Xin lỗi, nhưng tôi không thể đừng được, tôi trông anh cứ ngồi đó đờ đẫn và thấy tâm trí hòa thành đống hỗn độn và…” cậu nhún vai.

“Thấy tâm trí tôi à?” Erik hỏi, nhăn mặt với người đối diện và thực sự nghĩ rằng họ đang nói chuyện bằng thứ tiếng khác nhau, và rồi nhận ra, điều đó không hề đúng. « Cậu đang nói tiếng Anh à ? »

« Ah, phải… » người thanh niên siêu hấp dẫn (càng nhìn, Erik càng thấy cậu hấp dẫn) cắn môi dưới, rồi tiếp tục. « Xin lỗi về chuyện đó, tôi nhận ra rằng anh không nghĩ bằng tiếng Ý. Nhưng tất nhiên là tôi chỉ lướt qua thôi, chưa kịp bắt được thứ ngôn ngữ mà anh đang nghĩ là gì, và tôi nghĩ tiếng Anh là lựa chọn an toàn nhất để giao tiếp… »

Và đột nhiên Erik nhận ra. « Cậu là nhà ngoại cảm à ? » người thanh niên quyến rũ tới không thể tin nổi (chuyện này hết sức nực cười, nhưng tâm trí anh không sao điều chỉnh cho phù hợp được với vẻ hấp dẫn của cậu) nhìn xuống, cậu cắn môi lần nữa. Và Erik hoàn toàn chết hẳn.

« Xin lỗi, thật đấy, tôi không cố tình nhìn trộm đâu. Đôi khi tôi quên mất rằng khả năng ngoại cảm khiến người khác khó chịu, và tôi không biết khi nào nên dẹp nó đi và.. » giọng cậu đầy vẻ hối hận và Erik không thể chịu nổi điều đó, vậy nên anh đưa một tay ra. Cậu nhìn lên anh, lông mày nhướn lên sau hàng kính đen.

« Tôi là Metallokinetic. Rất vui được gặp cậu, bạn hiền đột biến ạ » Giờ thì gương mặt cậu sáng bừng lên và mỉm cười rạng rỡ.

« Tuyệt vời làm sao ! » cậu nhiệt tình bắt tay Erik. Rồi điện thoại kêu liên và cậu buông tay Erik ra khi nói lớn những từ khá hoa mỹ.

« Xin lỗi nhé ngài Metallokinetic, nhưng tôi muộn quá rồi và phải đi thôi, nếu không tôi sẽ bị thiến mất ! » Erik phì cười trước điều đó « Nhưng hãy tận hưởng Doumo và hít thở thật sâu nhé, gặp lại anh sau ! » cậu đứng dậy, túm lấy túi vẽ mà bên trong Erik thấy vài tập vẽ, rồi nhanh chóng bước đi, quay lại nhìn anh và mỉm cười.

Chuyện này thật kì lạ, Erik thầm nghĩ. Có bao nhiêu khả năng để gặp cùng một người hai lần trong thành phố này chứ, đấy là còn chưa kể cậu ấy còn bắt chuyện với anh và cũng là nguời đột biến nữa ! Có rất ít người là dị biến trên thế giới này, vậy mà cậu lại là một trong số đó, và…đúng là hiếm hoi. Thật kì lạ. Theo một cách tốt.

Tự mỉm cười với bản thân, anh đứng dậy và đi ngang qua đám đông, quay trở về với kế hoạch tìm trường nhạc ở phố Ricasoli.

Một tuần sau, anh có thể định vị được trung tâm thành phố và những khu lận cận mà không gặp nhiều trở ngại nữa. Anh cảm nhận được phần kim loại từ những toàn nhà, lực từ trường ẩn của Trái đất, và anh đã đi qua những con phố này nhiều lần. Không hẳn là anh biết rõ từng con phố hay nhớ hết tên chúng, nhưng ít ra là anh có thể đến bất kì nơi nào một cách dễ dàng nhờ bản đồ hoặc năng lực của mình.

Đối với việc định hướng, anh không hề tệ, và nhờ vào khả năng dị biến cho anh cảm nhận mơ hồ về lực hút từ trường của Trái Đất. Anh giống như một cái la bàn vậy.

Điều đáng buồn duy nhất là cậu không thấy anh chàng hấp dẫn kia đâu (phải, anh thực sự thầm gọi cậu như vậy đấy). Cũng không phải buồn bực quas hay gì, nhưng đã lâu rồi Erik mới thấy bị quyến rũ bởi người khác như vậy. Thật sự là quá lâu rồi. Dù sao thì anh cũng không phải túyp người thích giao thiệp, và đã dành nhiều năm cho việc chơi đàn, học tập và sáng tác. Từ trước tới giờ, anh chỉ sống vì âm nhạc mà thôi.

Còn mẹ của Erik, Eddie, thì vẫn luôn miệng nói rằng bà rất ngạc nhiên trước lựa chọn của anh. Dĩ nhiên là bà biết rằng Erik luôn thích âm nhạc, anh thường mua những đĩa nhạc cổ điển ngay khi có tiền, và đưa bà đến những buổi biểu diễn tại Tonhalle hay thậm chí là ở Philharmonie tại Koln. Nhưng Jakob, cha anh, lại luôn bảo anh theo đuổi thứ gì đó thiết thực một chút, chứ không phải chỉ là mơ ước viển vông.

Jakob là công nhân xây dựng, ông đã làm lụng vất vả cả đời để mang thức ăn và một cuộc sống dễ chịu cho gia đình. Khi còn nhỏ, ông rất nghèo, trước thời kỳ chiến tranh tại Đức, và đã thề sẽ không bao giờ để gia đình mình phải chịu cảnh như vậy nữa. Ông không muốn đập nát giấc mơ của Erik, ông là một người cha ân cần và tuyệt vời, nhưng cũng chẳng vun đắp cho ước mơ ấy, ông chỉ muốn giúp con trai mình thấy rằng tốt hơn hết là nên có một công việc chắc chắn, và ổn định, thay vì chạy theo một thứ mà có quá ít người đạt được. Erik đã đi theo lời khuyên ấy, với năng lực từ thời còn là một cậu thiếu niên và hoàn toàn phù hợp với công việc xây dựng.

Cho tới khi cha anh qua đời vì một tai nạn nghề nghiệp.

Anh vẫn cảm nhận được điều ấy cứ như nó chỉ vừa mới xảy ra vậy, nỗi đau, sự tức giận và bất lực khi để mất một người như vậy, một cách đột ngột, mà không có cách nào sửa chữa lỗi lầm, hay nói ra những điều mà ta chưa từng bao giờ có cơ hội nói. Chẳng thời gian nào làm nguôi ngoai được việc họ không còn bên cạnh ta nữa, họ đã biến mất, trong cái chớp mắt. Và đột nhiên, thứ còn lại chỉ là những khoảng trống rỗng.

Anh tự nhốt mình trong phòng nhiều ngày, chán ghét cả thế giới và những vị thần dối trá, không hiểu sao mọi chuyện lại có thể bất công đến vậy. Và rồi một ngày anh quyết định. Nếu cuộc sống là như vậy, nếu nó có thể cướp đi mọi thứ và kết thúc bất kì lúc nào, như vậy, thì anh muốn sống sao cho trọn vẹn. Anh muốn đạt được ước mơ của mình, hay chí ít là hi sinh khi đang đấu tranh cho nó. Anh không muốn một ngày kia phải hối tiếc vì những điều mà mình chưa làm.

Sẽ chẳng ai hiểu được anh thấy biết ơn ra sao khi được mẹ chấp nhận, và bà còn khuyến khích anh cố gắng theo đuổi con đường ấy.

Sau đó, việc dành hết thời gian, công sức, tiền bạc vào những buổi học đàn, và là dị nhân trong một cộng đồng phần lớn là người thường biến anh thành kẻ cô độc. Anh vẫn có bạn, nhưng rất ít, và cũng chẳng mấy thân quen. Có cả những mối quan hệ nữa, anh cũng chẳng còn trinh trắng gì, nhưng mọi chuyện trở nên phức tạp hơn nhiều khi anh nhận ra rằng minh thích cơ bắp rắn rỏi và những đường nét cương nghị hơn là một thân thể đẫy đà, và mềm mại.

Việc một dị nhân đồng tính người Do Thái quyết định trở thành nghệ sĩ piano chuyên nghiệp khiến anh không có nhiều bạn bè, không có gì là kỳ lạ. Cứ như thể anh đã đánh dấu tất cả những nhóm thiểu số trong bảng của mình vậy. Nhưng thực chất, anh cũng chẳng khao khát được hòa vào số đông làm gì.

Chỉ là có điều gì đó ở người thanh niên ấy. Chỉ có cậu.

“Vậy mà con không thấy chán sao?” Mẹ anh, người bạn một chiếc váy hè màu trắng và đeo kính, hỏi anh qua Skype trên máy tính.

“Chán sao? Mẹ à, con đang ở một đất nước mới, một thành phố mới, và con mới ở đây có ba tuần thôi.” Erik lắc đầu, thích thú, cầm lấy chai bia lạnh trên bàn và uống một ngụm.

“Nhưng con có biết ai ở đó đâu!” Eddie trực tiếp cau mày trước ống kính, rồi quay trở lại nhìn vào nơi mà Erik đoán là góc màn hình của mình.

“Cứ làm như là con đã từng cần ai ấy…” anh lẩm nhẩm, nhưng qua tiếng thở dài của mẹ mình, anh đoán là bà đã nghe thấy.

“Erik, con yêu, con cần có bạn chứ. Mẹ không nói con phải đi ra ngoài và gặp hàng trăm người, nhưng…”

“Con biết mà, mẹ đừng lo. Con chắc rằng mình sẽ gặp mọi người khi đã đến nhạc viện thôi,” Erik uống thêm một ngụm bia nữa. Ngày hôm nay quả là rất ấm.

“Mong là vậy…khi nào thì con bắt đầu học lại?”

“Trong vài tuần tới ạ,” Eddie gật đầu, và bắt đầu hỏi về từng bức ảnh mà Erik đã gửi cho bà.

Anh thực sự không cần bạn bè, từ trước tới giờ anh có cần bao giờ đâu. Không phải là anh căm ghét xã hội hay gì đó, nhưng anh luôn thấy thoải mái hơn khi ở một mình. Anh thích thả mình vào suy nghĩ, lắng nghe giai điệu mà cuộc sống ban tặng, tạo ra âm nhạc theo nhịp thở của bản thân và những thứ xung quanh. Làm sao mà thực hiện được điều đó khi có người cứ lải nhải bên cạnh, hay đòi hỏi được chú ý chứ, việc mà một người bạn sẽ làm ấy, có đúng không?

Vả lại, anh đã có những mối thân quen khi đang học ở Luân Đôn; quá quen rồi với những quan hệ này. Những câu đùa sáo rỗng, nhậu nhẹt và những cuộc trò chuyện trao đổi gượng ép.

Không. Anh không nghĩ là mình đã bỏ lỡ điều gì đâu.

Erik tỉnh dậy bởi tiếng sấm rền. Ngoài trời tối tới mức anh không chắc liệu mặt trời đã lên chưa nữa, nhưng sau khi ngồi dậy, vươn tay để cầm lấy điện thoại ở tủ giường, mở khóa màn hình, anh nhận ra giờ đã là 9.30 sáng.

Vươn người, anh vòng tay ra sau đầu và nhìn lên trần nhà. Anh định đứng dậy và mở rèm ra để ngắm mưa, nhưng lại thấy quá thoải mái và lười để làm vậy. Anh chỉ kéo giãn tay phải của mình, rồi túm lấy bao thuốc cạn điện thoại, lấy ra chiếc bật lửa từ túi xách, châm thuốc và hít một hơi. Hết sức thư thái.

Không gì sánh được với việc được đánh thức bởi cơn bão hè, và không phải vội vã đi đâu cả, chỉ cần ngồi đó tận hưởng điếu thuốc trên giường.

Anh ngồi đó, lưng tựa vào thành giường, một tay bắt chéo trước ngực, tay còn lại tựa lên đó với điếu thuốc trên môi. Hôm nay làm gì đây? Có lẽ cuối cùng đây cũng là thời điểm để viếng thăm viện bảo tàng. Giờ là tuần đầu tiên của tháng Chín và một lượng lớn khách du lịch đã rời đi kể từ khi tháng Tám kết thúc. Vả lại, trong một ngày mưa gió nhường này, có lẽ họ sẽ quyết định ở lại khách sạn chứ nhỉ? Nghe ngoài trời bão có vẻ lớn đấy.

Hoặc có lẽ anh nên ở trong nhà và chơi đàn. Anh đã dành chi khá đậm để đưa chiếc Steinway 1098 từ Luân Đôn về Florence, nhưng Erik không thể tưởng tượng ra việc phải sống mà không có đàn ở nhà sẽ ra sao. Dĩ nhiên là anh có thể mua một chiếc dễ hơn ở đây, nhưng Steinway và thứ đồ vật mà anh quý nhất. Anh đã dành dụm tiền trong một khoảng thời gian dài, làm thêm ở tiệm quần áo cho tới khi đủ tiền mua nó, và anh không muốn bỏ lại nó một mình ở căn hộ tin hin tại Luân Đôn ảm đạm chút nào.

Búng rơi tàn thuốc và chiếc gạt tàn ở tủ đầu giường, anh quyết định gạt đi sự lười biếng và tận hưởng một ngày mát mẻ, sau những ngày nóng đổ mồ hôi.

Dập thuốc, anh bước dậy khỏi giường, cầm lấy bộ quần áo sạch và đi tắm. Anh thực sự rất thích nhà tắm mới này, được lát gạch nhỏ đen trắng, sáng bóng và thẳng hàng. Phần kim loại hòa vào tới từ trường của anh, cứ như thể nó đang phổ một bản giao hưởng chơi ngầm dưới lớp da anh vậy.

Căn hộ mới này khá được. Không phải rộng rãi gì, nhưng trên gác rất thoáng, mở ra là phòng khách và nhà bếp phía dưới, nơi anh đặt chiếc đàn của mình nằm đó. Kiến trúc khá hiện đại, kết cấu bếp mở với mọi thứ mà anh cần, kể cả chiếc lò mà anh không chắc rằng mình sẽ sử dụng (không phải là do anh nấu dở, nếu bạn quan tâm, mà do thường thì anh quá bận để nấu một bữa sao cho tử tế). Chỉ có phòng ngủ, kèm nhà tắm là ở phía sau cửa dưới hành lang nhỏ, nơi dẫn ra cửa chính.

Bước ra khỏi phòng tắm, lau khô mái tóc ngắn bằng một chiếc khăn, bận bộ đồ yêu thích của mình – quần jeans bụi và áo phông in chữ ‘treble maker’ mà anh thấy khá hài hước, Erik bước ra bếp, bật TV, máy nướng bánh và pha café bằng năng lực của mình.

Mười lăm phút sau, anh đã ở cửa chính, làm ấm bụng với café và bánh mỳ mứt cam, cầm lấy chìa khóa, điện thoại, ví tiền, kính mắt và một chiếc ô nhỏ màu đen, tất cả đều nằm gọn trong túi đồ của anh. Anh chọn đôi bốt màu đen, hoàn hảo cho những ngày trời mưa. Mọi thứ đều đã sẵn sàng. Ngay khi bước ra ngoài phố, anh nhận ra trời đã tạnh mưa, nhưng vẫn khá lạnh và nhiều mây. Đúng kiểu mà anh thích. Tuyệt vời.

Trước khi đi, anh đã quyết định rằng mình sẽ bắt đầu với phòng tranh Uffizi, nghe nói đó là một trong những nơi hết sức quan trọng ở Florence. Erik không hẳn là một người sành về nghệ thuật, nhưng anh đọc được rằng có một vài tác phẩm của Botticelli và Caravaggio ở đó, ít nhất thì anh cũng nhận ra được tên tuổi của hai người ấy và một số tác phẩm kinh điển của họ.

Anh đi dọc sông Arno, và băng qua nơi mình bắt đầu chấp nhận rằng đó là một trong những địa điểm yêu thích của anh tại thành phố này, cầu Ponte Vecchio. Đúng là số lượng khách du lịch giảm thấy rõ. Rồi sau đó tiếp tục đi dọc theo dòng sông cho tới khi anh nhìn thấy tòa nhà Uffizi, băng qua mái vòm của nó để đi vào con phố ở ngay trung giữa hai cánh bảo tàng. Erik tự khen ngợi bản thân khi đã chọn hôm nay để đi bởi chẳng có ai ở đó cả. Anh nghe thấy tiếng nhạc, độc tấu bằng ghita từ đằng xa. Âm thanh trong và dễ chịu, vang vọng theo những bức tường cao trong bảo tàng, và anh không thể ngăn mình bước về nơi phát ra giai điệu ấy.

Tại góc đường, nơi Piazzale degli Uffizi giao với Piazza della Signoria, có một người đàn ông ngồi đó trên chiếc ghế gập, với cây dàn ghita điện nối dây với một chiếc loa nhỏ. Người ấy đang đàn bài A Time For Us của Rota, và Erik thấy bị ấn tượng trước kĩ thuật của người đàn ông này. Có vài người ngồi bên cạnh người chơi ghi ta, trên bậc thang đằng sau ông bên dưới Loggia dei Lanzi hay ở bậc thềm trước Uffizi. Erik bước tới đó khi dòng người đã vãn, ngồi xuống và tận hưởng giai điệu trong giây lát.

Những vệt nắng chiếu qua một vài đám mây đen, không khí trong lành và sạch sẽ, tiếng nhạc vang vọng khắp những bức tường, âm thanh cộng hưởng lại giống như được chơi trong nhà thờ vậy. Erik nhìn lên cung điện Vecchio ở bên phải và hít sâu một hơi. Không có âm thanh nào khác ngoài tiếng đàn và gió. Anh thấy mình ngẹn lời lần nữa trước vẻ hào nhoáng của thành phố này, bởi vẻ đẹp trong giây phút này, bởi tiếng nhạc chậm rãi len lỏi trong anh.

“Bạn hiền ạ, anh thực sự nên đi kiểm tra xem mình có bị Hội chứng Stendhal không đi”

Tuy không nhìn Erik, nhưng cậu vẫn đang mỉm cười, tay tiếp tục vẽ. Erik đã phải chật vật khi rời mắt khỏi gương mặt ấy và chuyển sang tập vẽ. Cậu đang dùng ngòi than để phác mảng tối và sáng, người nghệ sĩ chơi ghi-ta là tâm điểm của bố cục.

“Wow,” anh trả lời một cách khôn ngoan. Cậu lại cười lần nữa. “Cậu vẽ khá đẹp đấy,” Erik chỉ vào bảng vẽ và thấy nụ cười của chàng thanh niên thu lại dần, cậu đang xấu hổ sao?

“Cảm ơn. Tôi thường đến đây để vẽ anh ấy, anh ấy ở quanh đây suốt. Rất tốt để rèn luyện kĩ năng phác nhanh và dựng hình thể người”, Erik cau mày. Anh không rõ lắm về những thuật ngữ hội họa.  “Vậy anh vẫn ở đây à, ngài metallokinetic? Kỳ nghỉ dài nhỉ”

“Không, thực ra thì tôi sống ở đây,” Erik đáp.

“Vậy sao?” Cậu xoay người đối diện với anh và nó đấy. Điều duy nhất Erik có thể thấy. Đó là đôi mắt xanh nhất mà anh từng thấy đã nhìn mình chằm chằm, sáng và trong, một sắc xanh trong trẻo.

“Tuyệt quá!” Giờ thì đôi mắt xanh mướt ấy hòa cùng với nụ cười rạng rỡ, tất cả đều hướng trọn về anh, và Erik biết chắc rằng mình đang phải hứng chịu Hội chứng sắc đẹp ấy lần nữa.

“Vậy sao?” một Erik khôn ngoan. Rất khôn ngoan.

“Vâng. Cộng đồng dị biến ở Florence hẹp lắm, nên việc gặp một người mới đúng là tuyệt vời. Này, anh muốn uống café không? Tôi vẽ xong rồi, và cả hai chúng ta đều đang làm phiền ai muốn nghe nhạc đấy”. Cậu nói liền một mạnh với giọng nói đậm chất Anh, người Luân Đôn mà anh chưa hề nhận ra trước đó.

“Ah…tôi đang định đi thăm bảo tàng rồi?” Erik chỉ về phía Uffizi. Anh chẳng biết sao mình lại nói thế nữa, dĩ nhiên là anh muốn uống một tách café và trò chuyện với chàng trai mắt xanh bận áo polo trước mặt mình rồi! Cậu nhướn mày thích thú trước câu trả lời của anh.

“Hôm nay là thứ Hai mà”

« ..thì ? »

« Bảo tàng đóng cửa vào thứ Hai mà, » cậu mỉm cười. Erik rên rỉ trong cơn thương thân. “Bình thường thì tôi lên kế hoạch giỏi lắm, kiểm tra thời gian mở cửa trên mạng hoài, tôi thề đấy,” cậu khẽ cười, đóng tập vẽ lại và cất lại ngòi than vào hộp bút, rồi ném tất cả vào chiếc túi mà cậu mang ngày hôm trước.

“Vậy café nhé?” cậu hỏi khi lau tay vào một tờ giấy. Erik nhìn vào đôi mắt ấy và thấy như có lẽ mình nên từ chối, vì thực ra thì anh không thích giao du lắm, anh cũng chẳng biết gì về người thanh niên này ngoài việc cậu tên là Charles Xavier, và là người có gương mặt đẹp nhất mà Erik từng thấy.

“Erik Lehnsherr,” anh bắt lấy bàn tay đang đưa ra của Charles, và khi Charles hất đầu về phía quảng trường Signoria, anh gật đầu. Cả hai cùng đứng dậy, bước khỏi nơi người chơi đàn và đi qua đám đông ồn ào.

Charles dẫn anh về quán café ngay đối diện lâu đài, nhưng trước khi họ vào đến bên trong, thì đoạn điệp khúc bài There is a light that never goes out của The Smith bắt đầu chơi. Charles nhấc túi của mình và rút ra một chiếc điện thoại khá lớn, ra hiệu cho Erik đợi cậu một chút. Erik gật đầu, Charles xoay người đi và trả lời điện thoại.

Chỉ mất vài giây khi không bị để mắt tới, anh bắt đầu nghĩ miên man. Anh đang làm gì vậy chứ? Bình thường anh đâu có như thế này, đột nhiên đi theo người khác. Có điều gì ở Charles (và thật tốt khi cuối cùng cậu cũng có tên? Charles) khiến anh muốn biết thêm về cậu. Chuyện này chưa từng bao giờ xảy ra, và điều đó khiến Erik thấy nhộn nhạo. Cứ như thể một điều gì đó là sai, trật khỏi quỹ đạo bình thường của nó.

“Tôi rất xin lôi, Erik,” Charles quay trở về đứng trước mặt anh, trên tay là chiếc điện thoại lớn đến tức cười. “Tôi phải đi rồi, có việc gấp”

“Có vấn đề gì sao?”

“Không phải chuyện quan trọng gì, nhưng tôi cần có mặt ở đó. Thực sự rất xin lỗi, cuối cùng chúng ta cũng gặp nhau tử tế, vậy mà…”

“Không sao đâu, thật đấy, tôi hiểu mà.” Anh không thấy ổn, nhưng tự nhủ với bản thân rằng phải, đây chính là tín hiệu, anh sẽ không uống café với người lạ, hay trò chuyện. Cũng không kết bạn. Charles nhìn anh như thể xe hơi của cậu vừa tông phải con cún của Erik vậy. Và đúng, đó là lời miêu tả tốt nhất mà Erik có thể nghĩ ra trước ánh nhìn thất vọng trong đôi mắt ấy.

“Này, cho tôi số điện thoại của anh được không? Đỡ phải đợi cho lần tới gặp mặt.” cậu mỉm cười lần nữa. Erik gật đầu và vô thức đọc số cho cậu. “Anh đánh vần Lehnsherr thế nào? Họ đó ở đâu ấy nhỉ? Tôi nhận ra giọng của anh nhưng…”

“Đó là họ Đức. Đây, tôi sẽ viết cho cậu, nhanh hơn đánh vần nhiều,” Charles đưa điện thoại cho anh, mỉm cười, và Erik viết họ của mình, đổi chữ C thành K ở cuối tên mình khi ngay thấy Charles nói, ‘Ra anh là người Đức?’. Khi nhìn lên, anh nhận ra mắt Charles đang dán vào ngón tay của mình. Đột nhiên anh thấy tự ti kinh khủng. “Xong rồi.”

“Cảm ơn anh! Để tôi…” Charles nhấn vào màn hình vài lần, và chuông điện thoại của Erik vang lên. “Anh có số của tôi rồi đấy! Được rồi, tôi phải chạy đây, gọi anh sau nhé!”

“Chắc rồi,” và trước khi anh kịp nói gì khác, Charles đã xoay gót và chạy mất.

Erik dõi mắt theo cậu. Charles có quay lại một lần, mỉm cười và vẫy tay giống như lần trước, rồi tiếp tục chạy cho tới khi cậu biến mất vào một trong những con phố hẹp bên cạnh bảo tàng Gucci.

Thật tình. Chuyện quái gì vừa mới xảy ra vậy. Thật chẳng giống anh gì cả. Anh rút bao thuốc từ túi xách của mình, châm lửa, và quyết định đi quanh quẩn cho tới khi thấy muốn ăn. Hoặc có lẽ anh sẽ quay về nhà rồi chơi đàn. Phải. Có lẽ anh nên làm vậy, đột nhiên tay anh có cảm giác ngứa ngáy.

Anh bắt đầu bước về phía cầu Ponte Vecchio, quay trở về nhà của mình, tâm trí anh phủ đầy nụ cười rạng rỡ, đôi môi đỏ, máy tóc nâu và những nốt tàn nhang ấy. Những đốm tàn nhang đáng ghét. Và cả đôi mắt xanh, màu xanh của biển, màu xanh của trời.

Giờ thì cậu đã có một cái tên. Charles. Charles, giọng nói, đôi mắt, đôi môi, và cả bàn tay của cậu. Erik lắc đầu. Dừng lại ngay, Lehnsherr, đây đâu phải là mày.

Anh thấy bản thân mình đi thật nhanh, thèm được chạm vào đàn của mình, được đánh lên bản nhạc đột nhiên xâm chiếm lấy đầu óc anh.

Anh đang đọc cuốn Journey To The End Of The Night của Louis-Ferdinand Celine, ngồi trên ghế bành, khi chiếc iPhone của mình kêu và rung lên trên bàn café bên cạnh. Anh lơ đễnh cầm nó lên và thấy một tin nhắn whatsapp. Chắc là mẹ rồi, anh thầm nghĩ, nhưng không, tên trên điện thoại hiển thị là ‘Charles’ khi anh mở ứng dụng ra.

Anh ngồi ngây ra giây lát trước khi đọc tin nhắn.

‘Chào Erik! Còn nhớ tôi chứ? Người có khả năng ngoại cảm đã mời anh uống café ngày hôm trước rồi biến mất đấy. Tôi thấy tệ vì chuyện đó lắm nên’

Tin nhắn dừng ở đó, và Erik bắt đầu nhăn nhó, nhưng điện thoại anh lại rung lên lần nữa, và một tin nhắn khác xuất hiện.

‘một vài người bạn cùng tôi rủ nhau đi uống nước tối nay, anh đi không? Chúng ta đều là dị nhân cả, nên tôi sẽ rất vui nếu có anh đi cùng?’

Đây chính xác là việc mà Erik thường trốn tránh. Gặp gỡ người khác rồi nhậu nhẹt à? Không, cảm ơn. Nhưng đây lại là Charles, và sẽ là nói dối nếu không thừa nhận rằng gần đây, anh đều nhìn điện thoại, chờ đợi một cuộc gọi. Đây là Charles, người mà chỉ với hai cuộc gặp mặt đơn thuần dưới mười phút đã khiến Erik thấy thích thú hơn bất kì ai khác. Đây là Charles, với giọng nói lanh lảnh, nụ cười cùng đôi mắt hút hồn. Sẽ là nói dối nếu bảo rằng anh không muốn nhìn gặp cậu lần nữa.

‘Nghe hay đấy, tôi đồng ý,’ là câu trả lời, và anh nhấn gửi trước khi kịp đổi ý. Đây là cơ hội để anh tìm hiểu về cậu, biết xem liệu cậu có thú vị như những gì Erik đã nghĩ không, và nếu không thì tốt, anh sẽ đóng cánh cửa ấy lại và bước tiếp mà không chút hối hận. Anh đã quyết định rằng sống trên đời không nên hối tiếc. Với lại, gặp được thêm vài người bạn dị nhân cũng hay đấy chứ. Có rất ít những người giống anh, và Erik thích giao thiệp với họ hơn nếu phải làm quen với bất kì ai.

‘Tuyệt vời!! Đây, tôi sẽ gửi địa chỉ cho anh. Chúng ta gặp nhau lúc mười giờ nhé’

Erik vẫn chưa quen với việc mọi thứ đều xảy ra vào thời điểm muộn ở Italy, nhưng anh vẫn gửi tin nhắn đồng ý, rồi lưu địa chỉ lại để kiểm tra trên bản đồ Google.

Khoảng thời gian còn lại trôi qua rất mờ nhạt. Anh cố đọc nốt quyển sách, nhưng không sao tập trung được. Đi tới chỗ đàn piano ở trên tầng, anh luôn chơi đàn để có thể thả mình vào trong suy nghĩ. Anh thậm chí còn không phải cố nghĩ xem mình sẽ chơi bản nhạc nào, chỉ ngồi đó và để ngón tay mình tự quyết. Anh dừng lại khi nhận ra mình đang chơi bản Sonata in D Minor của Scarlatti theo nhịp độ nhanh hơn bản gốc. Vậy là anh đã lo lắng hơn mình nghĩ nhiều rồi.

Với bữa tối, anh chỉ bước xuống tầng dưới, lấy một chiếc pizza rau được chế biến sẵn ở nhà hàng đối diện, và ăn nó trong phòng khách khi xem kênh BBC trên TV. Thật tuyệt khi được xem các kênh từ khắp cả nước; thậm chí anh còn bắt được cả kênh của Đức như ZDF hay Arte.

Đã đến giờ chuẩn bị. Anh bước vào phòng ngủ, mở tủ quần áo lớn ra và cố không nghĩ quá nhiều đến việc chưng diện. Chỉ là vài ly rượu với những người người mà có thể anh sẽ không quan tâm. Và với Charles, chắc rồi. Anh lắc đầu, không, không, anh cấm bản thân không được nghĩ quá nhiều, thực ngốc nghếch, và trẻ con. Anh quyết định mặc một chiếc sơ-mi xắn tay kiểu quân đội, cùng quần jeans màu lam và đi đôi giày thể thao đơn giản màu xám. Giản dị, thoải mái, và vô tâm.

Nơi đó có tên là Mayday, nằm trên phố Dante Alighieri, ngay trung tâm phố cổ giữa Quảng trường Signoria và Nhà thờ. Erik đi bộ tới đó, nhưng anh vẫn nghĩ mình nên đầu tư vào một phương tiện gì đó. Một chiếc xe máy chẳng hạn. Không có xe hơi ở Florence bởi đường phố quá hẹp.

Anh tới nơi trước giờ hẹn năm phút, vậy nên anh châm một điếu thuốc và bình thản rít bên ngoài quán. Trông bên trong có vẻ ấm cúng, với ánh đèn dễ chịu, và theo như tiếng ồn khẽ phát ra ngoài phố, không khí ổn. Anh hút xong điếu thuốc, và đang băn khoăn liệu mình nên đợi bên ngoài, hay vào xem Charles đã đến chưa, thì một người vỗ lên vai anh, Erik quay lại và thấy cậu mỉm cười với anh.

“Chào, mừng là anh tới được,” Charles chào, và Erik gật đầu, quá lơ đễnh để có thể đáp lại theo hướng khác.

Cho tới giờ, anh chỉ nhìn thấy Charles ngồi lê lết, mặc áo phông cùng quần dài thoải mái, đầu tóc lộn xộn bay trong gió cùng một đống than vẽ trong tay. Nhưng giờ đây, trông Charles đúng là mãn nhãn. Tóc cậu được chải cẩn thận, rũ xuống tự nhiên, phần mái khẽ đọng lại bên mắt. Cậu bận một chiếc áo có cổ màu đen, cổ áo màu xám, để hở cổ, cùng với quần jeans trắng cực kỳ vừa vặn, phô bày cơ đùi săn chắc, và đôi bốt ngang mắt cá màu đen.

Ôi chúa ơi, trước đó Erik đã không để ý, hoặc không quan tâm nhưng Charles thấp hơn anh vài xen-ti-mét, và việc Charles ngước lên nhìn anh thật đúng đắn. Anh đã không biết mình thích được như vậy, và mong rằng khả năng của Charles sẽ không bắt được suy nghĩ của anh.

“Anh đợi lâu chưa? Tôi không nghĩ mình đến muộn lắm, đúng không?” Charles kiểm tra lại đồng hồ đeo tay, trông có vẻ đắt đỏ. Erik lắc đầu, cố tập trung vào thứ quan trọng hơn, chứ không phải là sở thích mới được phát hiện của mình.

“Không, cậu đâu có muộn. Tại tôi đến sớm thôi,” Charles mỉm cười với Erik lần nữa. Ôi cái đôi mắt ấy.

“Tốt. Vậy chúng ta vào nhé?” cậu hướng về phía cửa và Erik gật đầu, để cậu đi trước mình, rồi giữ cửa hộ Erik, nụ cười nhẹ nhàng chưa bao giờ rời khỏi môi.

Charles gật đầu về phía người pha chế khi lớn tiếng nói ‘Chào, chàng hoàng tử nước Anh,’ khiến Charles bật cười, rõ ràng là họ có quen biết nhau, cậu có thể là khách quen cũng nên, rồi đi về phía căn phòng sau quầy bar. Erik đoán không sai, nơi này có không khí rất dễ chịu. Nhạc ổn, không quá lớn, nhưng vẫn đủ để nghe được giữa những cuộc nói chuyện. Một bài indie rock mà anh không thể nhận ra đang được bật lúc này. Có rất nhiều người trong quán, trò chuyện, cười lớn, và uống những thứ nước có màu tức cười. Vô số những bức tranh treo tường, lớn, nhỏ, biếm họa đến cổ điển, từ Van Gogh, Mucha, đến Pollock. Có vẻ là một nơi đặc chất nghệ sĩ, và đó hẳn là lí do vì sao Charles, người đi phác thảo cả thành phố, lại chọn quán này để uống. Họ đi ra phòng phía sau, một nơi nhỏ hơn với ánh đèn trầm và ấm, gồm một bàn đánh bi-a, và nhiều loại ghế từ mọi kiểu dáng. Erik thấy khá là thoải mái.

Một nhóm người đang ngồi trong góc nâng ly và lớn tiếng chào Charles. Charles cười lớn, rồi bước về phía họ, vậy nên Erik đoán đó hẳn là nhóm bạn dị nhân mà cậu nhắc tới. Một cô gái với mái tóc hung dài còn thấp hơn Charles, trông không quá mười tám. Người còn lại có mái tóc đỏ, cùng đôi mắt còn đỏ hơn nữa, mà Erik đoán đó là một trong những người có sự đột biến về thể chất khá hiếm.

Charles giới thiệu họ là Katherine (Kitty, theo như cô nói) Pryde và Remy Lebeau. Kitty là một nhà thiết kế đồ họa người Mỹ, đang học về nghệ thuật in ở Học viên Belle Arti đã được hai năm; Remy thì đi du lịch khắp thế giới, gặp Charles ở Luân Đôn, và hiện đang làm nghề pha chế, anh gặp được Kitty thông qua tờ dán thông báo tìm người ở trọ của là dị nhân ở quán của anh.

“Và đây là Erik, Lehnsherr, anh ấy là một metallokinetic đấy!” Charles vung tay về phía Erik, phấn khởi, và Erik tự hỏi liệu cậu có thực sự biết khả năng của anh là gì không bởi anh chưa từng bao giờ giải thích cả.

“Vậy là anh có thể làm gì?” Remy hỏi. Eirk cười.

« Tôi có thể điều khiển tất cả các loại kim loại và từ trường, với mức độ nhỏ, » Remy khẽ huýt sáo, còn Kitty thì nhìn anh từ đầu đến chân, hoàn toàn bị ấn tượng, và Charles…trông Charles như thể có ai đó vừa trao cho cậu điều cậu muốn nhất trên đời vậy.

« Tuyệt quá, » cậu thì thầm, và giờ thì Erik hoàn toàn chắc là Charles không biết metallokinetic là gì. « Remy có thể chi phối năng lượng vận động, còn Kitty thì có vẻ biến thành hư vô. Em ấy có thể đi xuyên tường, tuyệt lắm luôn, » Kitty đỏ mặt và đấm Charles để ra hiệu cho cậu thôi đi.

« Và cậu nói mình là nhà ngoại cảm đúng không ? » Erik hỏi.

“Ah phải, phải, một nhà ngoại cảm cực mạnh,” cậu tự hào đáp, cằm hướng lên, “nhưng đừng lo, tôi là con người đề cao đạo đức và không bao giờ nhìn trộm vào suy nghĩ của người khác đâu,” cậu cười khẽ như muốn trấn Erik, người mỉm cười trước câu bông đùa ấy. Anh không nghi ngờ chuyện Charles có thể đọc được suy nghĩ của mình…nhưng ngay cả dị nhân quyền năng nhất cũng không hẳn là mối đe dọa lớn, đó là lí do vì sao họ có thể tự do sống giữa loài người. Anh chắc rằng mọi chuyện đã khác nếu họ có nhiều quyền hạn hơn. Hẳn là họ đã bị chối bỏ và chán ghét rồi.

“Tôi không phiền đâu, dị nhân không nên kiềm chế sức mạnh của mình,” và có vẻ như đó là điều nên nói, bởi nụ cười Charles bắt đầu giãn ra.

Họ dành hàng tiếng đồng hồ để tán nhảm, cả bốn người, cho tới khi mọi chuyện tập trung vào hai người họ. Erik biết thêm được nhiều điều từ Charles. Càng nhiều cốc bia và cocktails đến, thì Charles càng nói nhiều. Ngay cả anh cũng thấy mình cởi mở và luôn miệng hơn.

Anh biết được Charles đã hai mươi sáu tuổi, vậy là trẻ hơn anh ba tuổi. Cậu có bằng cử nhân xuất sắc chuyên ngành nghệ thuật tại trường Mỹ thuật Ruskin và Nghệ thuật ở Oxford, giờ thì cậu chu du đến những thủ đô của nghệ thuật trên toàn thế giới, làm việc tự do, để hoàn thiện kĩ năng. Erik đoán chắc cậu phải giàu có lắm, nếu có thể chi trả được chuyến du lịch này và học ở Oxford, hơn nữa, điều đó sẽ giải thích được cho chất giọng Anh quý phái của cậu. Charles có cái đầu của một nhà nghiên cứu, thông minh đến kinh ngạc; suýt đã học ngành Di truyền sinh học, và có thể đàm đạo về nhiều chủ đề về chính trị, khoa học, kinh tế, tín ngưỡng, xã hội, và cả chương trình Project Runway, phim truyền hình Downton Abbey và đủ loại tán nhảm của người nổi tiếng. Khi được hỏi lý do vì sao lại chọn ngành Mỹ thuật thay vì theo đuổi sự nghiệp Di truyền học, cậu chỉ nhún vai, và đáp rằng muốn theo đuổi giấc mơ của mình. Erik cảm nhận sự ấm áp tràn lên trong ngực mình, hoàn toàn thấu hiểu điều đó.

Và anh cũng biết được một điều mà bản thân cho là phần quan trọng nhất: Charles vẫn đang độc thân và là người đồng tính.

“Vậy còn anh thì sao?” Charles hỏi. Bằng cách nào đó thì họ đều ngồi cùng nhau trên một chiếc ghế bành ở góc khác, Charles thì ngồi lên tay ghế, nhìn xuống Erik; Kitty và Remy thì đánh bi-a một cách ồn ào với mọi người. Erik đã uống đến cốc bia thứ tư hay năm (vị đúng là tuyệt vời dù có hơi đắng) và không nhớ rõ Charles uống mấy ly rượu nữa. Cả hai đều đã ngà ngà say.

“Anh thì sao?” anh cười nhếch mép và nhận ra cách Charles nhìn xuống môi mình. Thú vị đấy.

“Còn độc thân? Trai thẳng? Hay gay kín? Lưỡng tính? Vô tính? Hay có giới tính gì không??” Charles cười khi nhấp môi ngụm nước màu xanh của mình. Má cậu đỏ bừng và ánh mắt ướt át. Rõ ràng là rất say.

“Em đoán xem,” Erik tựa người vào ghế, một tay đặt lên phía sau khá gần với Charles, anh đưa tay còn lại cầm cốc bia lên và uống một ngụm, mắt chưa từng rời khỏi Charles, người đang nhướn mày và cười một cách tinh ranh.

“Độc thân…và là gay?”

« Chính xác, » mắt Charles sáng bừng lên.

“Không thể tin được. Ý em là, nhìn anh xem. Sao có thể như vậy được?” Erik khịt mũi.

“Thưa ngài Xavier, đó có phải là một lời khen không?”

“Dĩ nhiên rồi,” Charles mỉm cười và rướn về phía trước, đưa chân lên tay ghế, cậu đang khá gần với người của Erik.

“Cẩn thận, người ta có thể nghĩ em đang tán tỉnh anh đấy,” một phần nào đó trong đầu Erik đang kêu anh dừng lại, nhưng anh quá say và thoải mái khi ở bên Charles nên chẳng quan tâm nữa.

“Ôi trời,” Charles nhìn quanh, mắt mở lớn rồi khẽ cười. “Nhưng nói em nghe xem..” cậu tựa sát vào người Erik và thì thầm, “liệu màn tán tỉnh của em có được chấp nhận không?” Erik nhìn thẳng vào đôi mắt mê hồn của Charles. Anh thấy người mình nóng bừng lên.

“Dĩ nhiên rồi,” Erik uống thêm một ngụm bia, mắt vẫn nhìn Charles. Cậu cắn môi dưới của mình, không thể ngăn bản thân cười toe toét.

“Tốt lắm,” Charles tiến gần hơn nữa, mắt dán vào môi Erik, đó cũng là lúc Remy và Kitty xuất hiện, ồn ào, vui vẻ và nhún nhẩy.

“Chúng ta ra sông chơi thôi!!” Kitty nói lớn, tay vung lên. Chắc cô say khướt rồi.

Charles rên rỉ còn Erik thì uống nốt ngụm bia cuối, tỏ như bất cần nhưng thật sự thì thấy thất vọng khi bị phá đám như vậy. Có phải Charles định hôn anh không?

“Ra sông à?” Charles hỏi.

“Phải, mình chắc là ngoài phố người ta đang chơi nhạc đấy, mình muốn nhảy nữa! Đi thôi!!” Kitty quàng lấy tay Charles và Erik, rồi kéo họ ra khỏi ghế ngồi.

Họ bật cười, trả tiền đồ uống và loạng choạng bước ra khỏi quán bar. Đã gần hai giờ sáng nhưng vẫn còn rất nhiều người ngoài phố, khách du lịch, những kẻ nhậu nhẹt và người dự những bữa tiệc sành điệu. Trời chỉ se lạnh nhưng không có gió hay mấy, sao trời vẫn sáng và thấy rõ. Một buổi tối ngày hè đẹp đẽ.

Kitty và Remy đi đằng trước, nhảy múa và hát theo bài hát cuối cùng được chơi trong quán trước khi họ bước ra. Charles mỉm cười với họ, cậu đang đi ngay bên cạnh Erik. Erik cầm lấy bật lửa và một điếu thuốc từ túi quần rồi châm lửa. Charles nhìn lên anh.

“Anh không nên hút thuốc mới phải, càng khiến anh thêm quyến rũ. Thật bất công,” Erik bị sặc khói và ho, anh bật cười. “Đúng mà!!” Charles vừa cười vừa kêu lên.

“Vậy thì lúc nào ở gần em, anh cũng phải hút thuốc mới được,” Erik nhìn xuống Charles và nháy mắt, nhận ra má của cậu hơi đỏ lên. Tán tỉnh Charles dường như trở thành một trong những việc làm yêu thích của anh rồi. “Đúng là vô lý,” và cậu giật lấy điều thuốc từ tay Erik rồi rít một hơi dài. Erik hoàn toàn chắc rằng mình chưa từng thấy hình ảnh nào quyến rũ hơn thế.

Bước về phía Ponte Vecchio, hút thuốc cùng nhau, nghe tiếng nhạc phát ra khi đi lên cầu, và Kitty quay lại với nụ cười rạng rỡ, hét lên “nói rồi mà” và kéo Remy chạy đi cùng mình. Charles bật cười và ngước lên nhìn anh với nụ cười tinh ranh.

“Xin lỗi nhé, họ hâm lắm,” cậu gật đầu về phía hai người kia.

“Tất cả bọn em đều hâm. Nhưng hâm kiểu tốt, vậy nên không sao cả.” Charles mỉm cười tự hào.

Đúng là có một ban nhạc đường phố đang chơi dở ở nơi rộng nhất trên chiếc cầu, đám đông bu quanh họ, một số thì ngồi, số còn lại thì đứng, có người quay phim, có người lại hát múa. Kitty và Remy đứng đằng sau, bên cạnh con đường sỏi của chiếc cầu, nhảy nhót xung quanh và đan tay vào nhau. Họ ra hiệu cho cả hai tham gia, nhưng Erik lắc đầu. Anh đã làm quá nhiều những điều kì lạ vào hôm nay rồi, nhảy nhót như vậy thì có vẻ hơi quá. Charles bĩu môi và cố thuyết phục anh, nhưng Erik chỉ mỉm cười, lắc đầu lần nữa và hối họ cứ nhảy tiếp, anh sẽ đứng đợi ở đây. Charles suy nghĩ trong vài giây rồi mỉm cười, gật đầu và hòa cùng hai người bạn. Còn Erik thì ngắm họ.

Ngay tại thời điểm đó, anh quyết định không bận tâm quá nhiều nữa. Rõ ràng anh không phải là kiểu người hay làm thế này, đi chơi với người lạ, uống rượu rồi cười đùa. Nhưng ai nói là anh không thể chứ? Ai đề ra luật cấm anh không được hưởng thụ những điều đó khi gặp đúng người? Và Charles quá là tuyệt vời; cậu vui tính, hướng ngoại, thông minh, một người bạn tuyệt vời và nếu như anh đoán đúng, thì còn là một người ngốc nghếch đến đáng yêu nữa. Với lại, có vẻ như cậu cũng thích Erik như anh thích cậu. Vậy nên tại sao phải phán xét mọi thứ đang xảy ra chứ, sao lại tự ngăn bản thân mình hưởng thụ, tự đẩy mình đi ra xa? Không, dù muốn hay không thì Charles cũng đã đánh thức phần nào đó trong anh, và Erik không muốn ngăn mình chối bỏ nó nữa. Thà rằng cháy sáng một giây còn hơn là ngàn năm le lói.

Tiếng vỗ tay cùng cổ vũ nồng nhiệt đánh thức anh khỏi màn chất vấn bản thân, ban nhạc đã biểu diễn xong một bài và chuyển sang bài tiếp theo. Anh nhận ra bài hát này chỉ sau hai nhịp, một bản cổ điển khá thịnh hành You are my sunshine. Anh nhìn người chơi nhạc và phân tích kĩ thuật của họ, một thói quen khó bỏ từ khi học nhạc của anh. Họ khá là giỏi. Một người thổi kèn trumpet, một người thổi saxophone, một người kéo đàn cello và người còn lại chơi ghita. Thậm chí họ còn có một người đàn organ ở đằng sau nữa.

Đám đông đang vỗ tay, nhảy múa và hát theo, bài hát được chơi theo giai điệu khiến tất cả mọi người đều nhún nhảy. Anh cảm nhận một bàn tay đặt lên vai mình từ đằng sau, quay lại và thấy Charles đang mỉm cười rạng rỡ, đung đưa vai một cách ngốc nghếch và hát lớn tiếng theo giai điệu. Cực kỳ đáng yêu.

“Nhảy với em nào, Erik!” và dĩ nhiên là anh sẽ làm vậy rồi.

Với đôi tay đặt trên eo Charles, anh bắt đầu bước theo nhịp lảo đảo, vụng về mà Charles đang dẫn, đung đưa người từ trái sang phải. Charles cười phá lên, và tiếp tục hát, với khuôn mặt đỏ ửng cùng nụ cười còn ấm áp hơn cả mặt trời của Tuscan. Erik không thể đừng được, anh cũng bật cười, chuyện này thực sự rất buồn cười. Anh không rõ liệu đó là vì rượu hay bài hát hay Charles hay vì bất kì thứ gì, nhưng anh đã không được cười như vậy trong nhiều năm rồi.

Bài hát kết thúc và Charles phàn nàn về niềm vui bị gián đoạn của mình. Ban nhạc gửi lời chào tạm biệt, rồi hỏi xin tiền cũng như sự quyên góp, nhưng Erik chỉ nhìn chằm chằm vào Charles. Tay anh vẫn ôm lấy eo cậu, còn tay Charles thì đặt trên vai anh, anh thực sự rất thích tư thế này. Charles nhìn lên anh, với nụ cười xinh đẹp trên đôi môi đỏ kia.

“Anh biết không, em chưa bao giờ nhìn vào tâm trí của người khác cả, nhưng anh đang bày tỏ sự thích thú với tư thế này của chúng ta khá rõ ràng đấy”

“Thế là gian lận mà,” Erik lẩm nhẩm, ngăn không để mình bộc lộ ra vẻ xấu hổ hay đỏ mặt. Charles cười toét miệng, đúng là tinh ranh mà.

“Chào đôi chim câu,” Remy gọi. “Mình đưa Kitty về nhà đây, cô ấy say quá rồi,” và khi Erik nhìn về phía họ, Kitty đã rũ ra bên cạnh Remy, hoàn toàn phải nhờ đến sự giúp đỡ của Remy và đôi tay đỡ lấy eo. “Cậu đi không, Charles?” Charles nhìn họ, rồi liếc lên Erik, và cắn môi, Erik biết, Erik biết chuyện này có thể tiếp diễn ra sao. Anh có thể bảo Charles ở lại, rủ cậu về nhà với mình. Tín hiệu đã quá rõ ràng rằng Charles cũng thích anh và anh cũng vậy. Nhưng liệu đây có phải là điều anh muốn không? Anh chắc rằng nếu đưa Charles về nhà đêm nay, có nhiều khả năng mọi chuyện sẽ kết thúc chỉ như vậy. Không được biết rõ hơn về Charles, không được tận hưởng nhiều hơn thời gian bên cậu, trí thông minh và sự vui tính ấy. Tất cả chỉ là tình dục mà.

Chỉ là cuộc tình một đêm. Như những cuộc tình khác mà anh từng có.

Không, đó không phải là điều anh muốn, không phải lần này. Charles thật đặc biệt, Charles khiến anh cảm nhận những điều mà anh không nghĩ mình còn sở hữu nữa. Anh sẽ không mạo hiểm cậu cho một đêm chóng vánh đâu.

“Đi theo mọi người đi,” là những gì anh nói. Charles nhìn anh với vẻ bối rối và tổn thương. Erik đặt tay lên má Charles, và vuốt ve những đốm tàn nhang bằng ngón cái của mình, tim anh càng ngày đập càng ngày càng nhanh, “Em có số của anh và anh cũng vậy mà. Đừng vội vã được không?” Charles có vẻ đã hiểu, cậu tựa vào tay Erik và gật đầu. “Anh không muốn đẩy nhanh chuyện này.”

“Yeah. Em cũng vậy,” Charles thì thầm, một tay cậu giờ đang đặt lên người Erik, mắt nhắm nghiền. “Anh sẽ gọi cho em sớm, đúng không?”

“Ngày mai đã đủ sớm chưa?” Erik hỏi, hòa theo tiếng cười của Charles.

“Mai là chuẩn rồi,” Erik gật đầu và thấy Charles đang kiễng chân, anh cảm nhận được đôi môi ấm của Charles nơi khóe miệng mình. “Chúc anh ngủ ngon, Erik”

“Chúc em ngủ ngon, Charles”

Anh mỉm cười, và rồi hơi ấm nơi cậu tan dần. Họ vẫy tay chào nhau nhau, đôi mắt xanh biếc hơn cả bầu trời ấy rời khỏi anh, đi theo hai người bạn đã sớm bước về phía trước, vẫy tay chào Erik. Anh cứ nhìn theo cho đến khi họ quẹo phải ở cuối con cầu và biến mất đằng sau những bức tường. Anh xoay người, rồi bước về phía con kia sông, quay trở về nhà.

Anh hút thuốc trên đường về nhà, nhớ lại điếu thuốc vừa chia cho Charles khi nãy rồi mỉm cười. Hãy nhìn anh xem, một Lehnsherr không thích giao du, lạnh lùng và vô tâm, đột nhiên lại tự cười một mình khi nhớ về người mà anh chỉ vừa mới gặp. Anh càng cười tợn. Nếu như anh mới gặp Charles thì có sao. Chẳng ai có thể phủ nhận mối liên kết giữa họ.

Anh không thể chờ đến mai mất.

TBC

Advertisements

3 thoughts on “FC Chap 1

  1. Pingback: For Charles | Hạ Vũ

  2. Không uổng công mong chờ đến thế T_T Muốn khóc mất T_T Mình là bánh bèo vô dụng chạm phải tí dịu dàng lãng mạn là rưng rưng T_T

    Cảm ơn Vũ , một chap thiệt dàiii … Mong chờ chap 2 3 4 của chị nữa , em cảm ơn nhiều ❤

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s